Cổ Tích Việt Nam- ( Phần V)

Đăng lúc: Thứ ba - 31/07/2012 07:53 - Người đăng bài viết: jos.Trần
Cổ Tích Việt Nam- ( Phần V)

Cổ Tích Việt Nam- ( Phần V)

SỰ TÍCH NÚI BÀ ĐEN Ở TÂY NINH
 
 (Trong trời đất, còn nhiều điều huyền bí, chưa giải nghĩa được theo lối thông thường)

    Ngày xưa, núi Bà Đen có tên gọi là núi Một. Trên đó có một tượng Phật bằng đá, rất linh thiêng. Dân chúng rủ nhau chặt cây lá dọn đường lên núi cúng Phật. Người lên núi thường phải đi từng đoàn, vì dọc đường có rất nhiều beo cọp. Có một người con gái tên là Lý Thị Thiên Hương, văn hay võ giỏi, gốc ở Trảng Bàng. Vào mỗi ngày rằm trăng sáng, cô hay lên núi lễ Phật. Trong làng, có chàng trai tên là Lê Sĩ Triệt để ý cô, đem lòng thương mến.

   Vì thấy cô có nhan sắc, một ông quan nọ định dùng võ lực bắt cô đem về làm vợ lẽ. Ông ra lệnh cho một thầy võ thi hành kế gian. Khi cô Lý bị thầy võ kia đánh bại, sắp gặp nạn, thì Lê Sĩ Triệt xông ra cứu thoát. Về nhà, cô thuật truyện lại, được cha mẹ đồng ý gả cô cho chàng trai cứu mạng. Vào lúc ấy, Võ Tánh đang chiêu binh giúp Gia Long đánh nhà Tây Sơn, Lê Sĩ Triệt ra tòng quân. Một hôm, giữa lúc đang chờ chồng trở về đoàn tụ, cô cầu khẩn trên núi thì có một bọn cướp đến vây bắt. Cô chạy thoát vào rừng trốn, rồi mất tích luôn. 

    Sang đời vua Minh Mạng, có một vị hoà thượng sống tu trên núi Tây Ninh ngày kia đang niệm Phật, bỗng thấy một người con gái mặt đen nhưng xinh đẹp hiện ra nói văng vẳng:

- "Ta đây họ Lý, khi 18 tuổi bị rượt bắt nên té xuống hố chết. Nay ta đã trọn kiếp tu, xin hoà thượng xuống triền núi phía Đông Nam tìm xác ta đem chôn cất dùm".

    Vị hoà thượng này y lời, đi tìm xác cô, đem về chôn cất.

    Câu chuyện đồn đãi ra tới tai Thượng quốc công Lê Văn Duyệt. Ông bèn lên núi tìm hiểu hư thực, và hứa dâng sớ về triều phong chức cho cô gái họ Lý này, nếu cô linh hiển cho ông thấy tận mắt sự thật. Cô bèn nhập vào xác một đứa con gái, nói rằng: "Hồn của thượng quan sau này sẽ được chức thần kỳ vinh hiển, nhưng xác của thượng quan sẽ bị hành hạ". Lê Văn Duyệt nói: "Bổn chức không cầu xin cho biết tương lai mình, mà chỉ muốn biết rõ căn nguyên của nàng". Xác cô gái rơi nước mắt, kể lại câu chuyện chết oan ức của mình, và nhắc lại duyên nợ tiền định với chàng Lê Sĩ Triệt.

    Theo lời kể, sau khi Võ Tánh tự hoả thiêu ngày thành Bình Định thất thủ, Lê Sĩ Triệt được phong chức chỉ huy 2 tỉnh Khánh Hoà và Bình Thuận. Hai người vì chưa sống chung chạ với nhau, nên được trường sinh bất tử. Nhờ vậy, nàng trở thành tiên thánh, xuống cõi trần thế để cứu nhân độ thế. Kể dứt lời, cô gái nọ té nhào, bất tỉnh hồi lâu mới dậy. Lê Văn Duyệt đã thay mặt vua, phong cho cô Lý thị Thiên Hương chức vị "Linh Sơn Thánh Mẫu", ngự ở Núi Một, tức là núi Bà Đen ngày nay ở Tây Ninh. Núi Bà Đen nổi danh là một địa thế linh hiển, kỳ bí, nhiều phép lạ, khó ai giải thích được.

 

SỰ TÍCH CÀNH ĐÀO NGÀY TẾT
 
    Ngày xưa, ở trên trời có một vị hoàng đế cao nhất trong các vị hoàng đế. Vị hoàng đế tối cao này có đên bốn mắt và rất tôn nghiệm, lại trông coi 4 phương thiên đình cả nước các thần và các quỷ. Nước quỷ có rất nhiều loài quỷ rất khó cai quản. Bọn quỷ dữ lớn nhỏ thường lang thang xuống trần gian làm hại dân lành. Để bảo vệ cho người dân thường ở hạ giới, vì hoàng đế tối cao ra lệnh: Tối đến khi mọi nhà đóng cửa đi ngủ, quỷ mới được ra khỏi nước quỷ. Sáng sớm khi mọi người sắp ngủ dậy, quỷ phải lập tức rời khỏi trần gian trở về nước quỷ hết.

    Hai anh em thần núi Đào là Sân Su và Úy Lù được hoàng đế tối cao giao cho trọng trách cai trị nước quỷ. Núi Đào có một cây đào cổ thụ, cành lá tỏa rộng đến 3000 dặm. Quả của cay đào này đủ cung cấp cho chư Tiên, chư Thần trên trời dùng quanh năm. Trên ngọn cây đào có một con Kim Kê (gà vàng) rất lớn, có thể nghe được tiếng động nhỏ cách xa mấy vạn dặm. Trên ngọn cây dâu ở Thiên đình cũng có một con Ngọc Kê (gà Ngọc). Mỗi buổi sáng khi bình minh ló rạng, ánh nắng mới chiếu lên mình, gà vàng đã cất tiếng gáy ò ó o. Nếu trời râm mát, không ánh nắng, khi nghe gà ngọc cất tiếng gáy thì gà vàng cùng gáy theo. Tiếng gáy của gà vàng gọi quỷ trở về.

    Lúc này Sân Su và Úy Lù rất uy nghiêm đứng trước cổng nước quỷ, giữa cổng có cầm một cành đào tượng trưng cho quyền uy của người cai quản là thần núi Đào. Nếu phát hiện tên quỷ nào về chậm hoặc có dấu hiệu gieo tai hoạ dưới trần gian là Sân Su và Uý Lù bắt ngay, treo cổ lên cây đào cho đến chết rồi vứt cho thần Hổ chuyên ăn thịt quỷ. Bởi vậy bọn quỷ nhìn thấy cành đào là vô cùng sợ hãi.

    Đầu thế kỷ 26 (trước công nguyên), vua Nghiêu và vua Thuấn (Trung Quốc) là những đấng minh quân, thương dân như con, muốn trừ lũ quỷ quái cho dân được ăn Tết an lành vui vẻ đã ra lệnh đưa tục cắm hoa đào trên bàn thờ ngày Tết thành một tục lệ bắt buộc. Theo thời gian, tục cắm hoa đào ngày Tết đã đi vào tình cảm, tâm thức của nhân dân. Và hoa đào nở là một tín hiệu báo tin Tết đến Xuân về.

 


SỰ TÍCH CÂY THÌ LÀ
 
    Ngày xưa, xưa lắm rồi, cây cỏ chưa có tên chi cả. Một hôm, ông Trời tập hợp tất cả các loài lại, ban cho mỗi loài một cái tên. Thôi thì, các loại cây giành nhau đến trước để được đặt tên theo đúng ý của mình muốn. Có cây thì dịu dàng toả hương, đòi được gọi là Lan, có cây lại õng ẹo múa nhịp nhàng, xin được đặt là Tóc Tiên, có cây lại hiên ngang đi đến, được gọi là Thông. Các loại rau cỏ cũng vậy, cũng chen chúc nhau, nài nỉ những cái tên thật đẹp như Quế, Dấp Cá, Tía Tô, Húng, vân vân... Cho đến cuối ngày, khi ông Trời đã mệt, có một cây nho nhỏ vội vàng chạy đến, chỉ xin tên gì cũng được. Cây đó xin lỗi ông Trời đã đến trễ, vì nó phải chăm sóc bà của nó đang bị bệnh. Ông Trời thấy lòng hiếu thảo của nó thì cảm động lắm nên không phạt nó, nhưng ông không nghĩ ra được tên gì khác, cho nên ông ngập ngừng:

- Tên của con là... thì là...thì là...

Nhành cây nghe vậy, mừng quá hét toáng lên:

- Ôi tôi có tên rồi ! Tôi là Thì Là !

    Nó vui quá nên vội vàng cám ơn ông Trời rồi chạy nhanh về nhà khoe bà của nó, và để xem sức khỏe của bà. Nó nào biết đâu rằng chữ "thì là" không phải là tên ông Trời dự định đặt cho, mà là sự ngập ngừng chưa nghĩ ra được cái tên cho nó.

    Từ đó, muôn loài gọi nó là cây Thì Là, hay là Thìa Là. Tuy rằng cái tên đó rất bình dân, nhưng không một loài nào dám chế diễu, bởi vì lòng hiếu thảo của nó đã hơn tất cả các loại cây khác rồi.
 


SỰ TÍCH CỦ KIỆU
 
    Ngày xửa ngày xưa, vào đời vua Hùng Vương, có một nàng công chúa rất yêu thích việc trồng trọt, cày cấy. Không như những công chúa khác, công chúa Kiệu sống cùng với những người dân chất phác đơn sơ, chia sẻ cuộc sống thường ngày với họ. Công chúa Kiệu rất thông minh, và hay tạo ra những loại cây mới hầu giúp cải thiện đời sống bình dân.

    Một ngày nọ, công chúa bước xuống một thửa ruộng bỏ hoang. Nàng định dọn sạch đám cỏ đang mọc cao để gieo lúa. Trong lúc ngắm nghía một cây cỏ lạ, nàng Kiệu chợt nhận ra rằng nó rất giống với cây hành lá. Nàng tò mò, nếm và ngửi thử mùi vị của củ. Kỳ lạ thay. Củ của cây cỏ này tuy hơi nồng gắt nhưng rất lạ, không giống với những củ nàng đã biết qua. Công chúa vui mừng quá, liền đem giống cỏ lạ về trồng. Khi đã đến lúc gặt hái, nàng thử ngâm củ trong hỗn hợp giấm và nước ngọt của cây trái. Vài ngày sau, củ đã không còn vị gắt nhưng thơm nồng và vị lạ chưa từng thấy. Nàng dùng củ đã ngâm, ăn với thịt kho hay bánh chưng, thì sự kết hợp đó thật là tuyệt hảo.

    Lúc đó cũng là dịp Xuân về. Nhân một ngày vua Hùng xuống thăm dân, công chúa Kiệu dâng lên vua cha những củ trắng trong, thơm ngát, cùng với những món ăn dân gian. Vua Hùng nếm thử, và rất thích. Từ đó, vua hạ lệnh trong dân gian cho trồng phổ biến cây cỏ lạ đó, mà vua đã đặt tên là Kiệu theo tên nàng công chúa đã có công khám phá.


 
SỰ TÍCH HOA TẦM XUÂN
 
    Ngày xưa, có hai em nhỏ mồ côi cha mẹ. Đứa lớn là trai và đứa bé là gái. Tuy còn nhỏ, hai em đã biết yêu thương, đùm bọc lẫn nhau. Ngày ngày cậu anh trai khi thì đi xin về nuôi em, khi thì vào rừng hái nấm, kiếm củi đem ra chợ bán hoặc đem đổi lấy gạo để nuôi em. Còn cô em là một cô bé tuyệt vời, rất hoạt bát, vui vẻ và tốt bụng. Em nghe được tiếng chim và biết cùng chim trò chuyện. Từ sáng sớm, chim muông lũ lượt bay đến nhà và cùng em trò chuyện, ca hát.

    Tiếng hát của em làm say mê cả con quỷ độc ác trong một khu rừng gần đó. Nó bèn giả làm bà già tốt bụng, ra khỏi rừng tìm đến nhà em bé. Nó cho em bé trái cây, cho lũ chim hạt thóc. Nó còn khôn khéo bày trò vui chơi cùng lũ chim và cô gái. Vốn rất ngây thơ, em bé không đề phòng, thừa cơ con quỷ chộp lấy em và lũ chim mang tận vào rừng sâu. Nó nhốt em bé với lũ chim trong một chiếc lồng lớn, rồi bắt em hát cho nó nghe. Nhưng quá khiếp sợ, em bé không hát.
 
    Tức lắm, con quỷ gầm lên những tiếng kêu man rợ, rồi vùng dậy vừa gào thét, vừa đấm đá. Chiếc lồng lăn long lóc làm cho thịt da em trầy trụa, xây xát. Nó liền phạt em bé và lũ chim bằng cách đem chiếc lồng treo lên một cành cây cao rồi bỏ đi, lòng đầy tức giận.

    Ở trên cành cây cao, cô bé tìm cách cứu bầy chim. Em cố chịu đau, luồn mấy ngón tay nhỏ xíu vào kẽ giữa những chiếc nan lồng. Răng nghiến chặt, em cố kéo chiếc nan bị uốn cong mở ra một lối nhỏ. Em giúp bầy chim thoát khỏi lồng bay ra. Nhưng hai bàn tay em bị những chiếc nan lồng siết chặt đã bị dập nát, máu me đầm đìa. Máu thấm đỏ cả mấy chiếc nan. Và rồi một điều kỳ lạ đã xảy ra. Những chiếc nan dính máu như cựa mình và cứ thế dài mãi ra, buông mình xuống tận đất, thân mọc đầy những chiếc gai nhọn.

    Khi trở về nhà, người anh không thấy em gái đâu, cả đàn chim cũng mất. Nhìn thấy cảnh nhà tan hoang, biết có sự chẳng lành, chú bé đi tìm em, miệng gọi Xuân ơi, Xuân ơi không ngớt. Nhưng không một tiếng trả lời. Em càng cuống quýt, sợ hãi càng chạy, càng gọi. Em đi mãi, gọi mãi vượt qua mấy cánh đồng, lội qua mấy con suối, sau cùng đã tìm được người em đã trở thành bông hoa Xuân mất rồi.Từ đó người ta gọi là hoa Tầm Xuân. 

Tác giả bài viết: jos.tran (sưu tầm)
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Tin Mới

Lượt Truy Cập

  • Đang truy cập: 3
  • Hôm nay: 610
  • Tháng hiện tại: 18311
  • Tổng lượt truy cập: 356030

Lịch sử Ngày Giới Trẻ Thế Giới

Thông Điệp Phục sinh Urbi et Orbi 2013

face